Trang chủ / Kiến thức y khoa

TIỀN LIỆT TUYẾN

Ngày đăng: 18/09/2015

  • Tuyến tiền liệt là gì?
     
    Tuyến tiền liệt là một tuyến nằm ngay dưới bàng quang, nối với niệu đạo. Các tuyến ở trong mô tuyến tiền liệt tạo ra một chất dịch màu trắng, trong quá trình giao hợp, tuyến co bóp các cơ và đẩy chất nhờn này xuống đường niệu đạo, ở đây nó trộn lẫn với các chất nhày khác tạo thành tinh dịch. Tuyến tiền liệt thay đổi nhiều lần trong cuộc đời nam giới. Lúc mới sinh, kích thước tuyến tiền liệt chỉ bằng hạt đậu. Ở thời niên thiếu nó lớn dần lên và mềm, nhưng sau đó tuyến tiền liệt bắt đầu lớn lên nhanh chóng. Sau tuổi 20 tuyến tiền liệt sẽ ổn định kích cỡ và hình dạng thông thường. Trong giai đoạn trưởng thành tuyến tiền liệt có kích thước bằng quả óc chó. Sau đó, tuyến tiền liệt thường giữ nguyên kích thước đến tuổi ngủ tuần và bắt đầu to lên ở những năm sau đó.
    Ở tuổi trưởng thành thường có kích thước rộng 4cm x 3 cm cao x 2,5 cm dầy, có khối lượng từ 15 – 25g, tiết ra chất nhờn và tạo nên một số thành phần của tinh dịch. Dọc theo thân của TTL có các chuỗi mạch – thần kinh (vasculo – nerveux) kích thích sự cương dương của dương vật.
     
    Vị trí của tiền liệt tuyến

     

     
    Tuyến tiền liệt có kích thước bằng quả óc chó (20g). Nó nằm ở phía dưới của bàng quang và bao quanh phần đầu của niệu đạo (ống dẫn nước tiểu từ bàng quang đến dương vật).
     
    Do nằm xung quanh niệu đạo nên khi tuyến tiền liệt lớn lên sẽ làm niệu đạo trở nên hẹp hơn và thường gây khó khăn cho dòng nước tiểu đi qua. Tuyến tiền liệt có thể làm chậm hoặc thậm chí cản dòng nước tiểu đi qua niệu đạo.
     
    Các cơ ở vùng đáy chậu có chức năng nâng đỡ bàng quang, ruột và kéo dãn từ phía này của khung xương chậu đến phía còn lại. Các cơ này chạy từ xương cùng ở phía sau đến xương chậu nằm ở phía trước (tuyến tiền liệt nằm trên nhóm cơ này). Ngoài ra, chúng còn bao quanh niệu đạo và trực tràng và giúp cho nước tiểu không thoát ra khỏi bàng quang.
    Vì tuyến tiền liệt nằm ở gần trực tràng nên sự lớn lên của tuyến có thể kiểm tra bằng cách thăm khám hậu môn – trực tràng.
     
    Cấu tạo của tiền liệt tuyến

     

    - Tiền liệt tuyến có bốn mặt: mặt trước liên quan với khoang sau xương mu, mặt sau liên quan với trực tràng, hai mặt bên liên qua với cơ nâng hậu môn.
    - Tiền liệt tuyến được chia ra làm ba thuỳ: thuỳ phải và thuỳ trái cùng với một thuỳ nằm sau niệu đạo với hình dạng ngón tay gọi là thuỳ giữa. Hiện nay, quan niệm mới chia tiền liệt tuyến làm 5 vùng: vùng ngoại biên, vùng trung biên, vùng cơ sợi, vùng quanh niệu đạo và vùng chuyển tiếp.
    - Tiền liệt tuyến được bao bọc bởi một bao gồm hai lớp: lớp trong là bao thực sự, còn lớp ngoài tạo nên do sự dày lên của lá tạng mạc chậu, giữa hai lá là đám rối tĩnh mạch tiền liệt tuyến.
     
    Mạch máu và thần kinh chi phối hoạt động tiền liệt tuyến
     
    Mạch máu:
     
    - Tiền liệt tuyến được nuôi dưỡng bởi các nhánh của động mạch thẹn trong, động mạch trực tràng giữa và động mạch bàng quang dưới.
     - Các tĩnh mạch đổ về tĩnh mạch chậu trong. Đám rối tĩnh mạch tiền liệt tuyến thường có nhánh nối với các tĩnh mạch chung quanh cột sống, điều này có thể giải thích rằng ung thư tiền liệt tuyến thường di căn đến cột sống. 
     
    Thần kinh:

    Tuyến tiền liệt nhận nhiều nhánh thần kinh từ đám rối thần kinh giao cảm và phó giao cảm.

    Sự phát triển của tuyến tiền liệt
     
    Sự tăng trưởng của tuyến tiền liệt được điều khiển bởi nhiều chất gọi là các androgen. Androgen là các steroid sinh dục hay là các nội tiết tố làm phát triển của các đặc tính sinh dục thứ phát của nam giới như râu, tóc…
     

    Androgen quan trọng nhất ở nam là testosterone. Testosterone đuợc sản xuất chủ yếu bởi các tế bào Leydig nằm giữa các ống sinh tinh trong tinh hoàn. Một lượng nhỏ testosterone cũng được sản xuất bởi tuyến thượng thận (một tuyến có kích thước cỡ trái óc chó nằm ở trên thận).
    Testosterone được vận chuyển trong máu đến các phần khác của cơ thể và tác động lên nhiều các cơ quan khác nhau. Chỉ những nơi nào trên cơ thể có thụ thể phát hiện các androgen mới tương tác với testosterone. Testosterone được chuyển thành một androgen khác gọi là dihydrotestosterone (DHT) có chức năng kích thích sự tăng trưởng của tuyến tiền liệt.
    Tuyến tiền liệt chỉ thay đổi kích thước sau tuổi dậy thì bởi vì từ thời điểm này trở đi testosterone mới bắt đầu được sản xuất. Khi nồng độ của testosterone tăng lên sẽ làm tăng kích thước tuyến tiền liệt và tiếp tục phát triển. Nếu nồng độ của testosterone hạ xuống thấp do cắt bỏ tinh hoàn, tuyến tiền liệt sẽ co lại. Khi không có testosterone, tuyến tiền liệt sẽ dừng tổng hợp dịch vì chức năng này của tuyến hoạt động phụ thuộc vào testosterone.
     
    Chức năng tiền liệt tuyến
     

    Tiền liệt tuyến có hai chức năng chính là: Tiết và dữ trữ dịch, co bóp và kiểm soát nước tiểu.
     - Tiết và dự trữ dịch: Tiền liệt tuyến (cùng với những tuyến phụ khác như túi tinh và tuyến Cowper) sản xuất ra phần lớn dịch trong tinh dịch. Dịch từ các tuyến này sẽ trộn lẫn với tinh trùng và giúp cho tinh trùng di chuyển dễ dàng trong hệ thống sinh dục nam.
    - Co bóp và kiểm soát nước tiểu: Chức năng này giúp ngăn cản sự chảy ngược về phía bàng quang trong quá trình phóng tinh, cơ thắt trong ở đáy bàng quang sẽ đóng lại. Khi cơ thắt trong đóng lại, nó ngăn nước tiểu và tinh dịch đi ra ngoài cơ thể qua niệu đạo cùng lúc. Khi đạt đến đỉnh điểm của khoái cảm, cơ vòng này sẽ đóng chặt để ngăn không cho tinh dịch trào ngược vào bàng quang.

     

    Tuyến tiền liệt chỉ thay đổi kích thước sau tuổi dậy thì bởi vì từ thời điểm này trở đi testosterone mới bắt đầu được sản xuất. Khi nồng độ của testosterone tăng lên sẽ làm tăng kích thước tuyến tiền liệt và tiếp tục phát triển. Hoạt động của tuyến tiền liệt phụ thuộc vào testosteron, những bất thường về cấu tạo và chức năng liên quan đến tuyến tiền liệt có thể ảnh hưởng tới chức năng sinh sản và tình dục ở nam giới.
                                                                   
    Các bệnh hay gặp về tuyến tiền liệt
     
    Viêm tuyến tiền liệt
     
    Thường xảy ra ở người có tuổi nhưng cũng có khi ở người trẻ. Nguyên nhân chính thường do virus hoặc vi khuẩn. Viêm TTL bao gồm nhiều thể từ nhiễm khuẩn cấp cho tới hội chứng đau mạn tính TTL. Hội chứng này có bốn thể chính: Viêm TTL do nhiễm khuẩn cấp, ít gặp nhất nhưng lại dễ chẩn đoán và điều trị nhất. Bệnh cảnh: Xảy ra đột ngột, trong nước tiểu có nhiều bạch cầu và vi khuẩn. Sốt, gai rét, đau vùng thắt lưng và vùng sinh dục, có cảm giác nóng rát hay đau khi đái.
    Viêm TTL mạn tính: Cũng do nhiễm khuẩn nhưng không xảy ra đột ngột. Chỉ có triệu chứng nhiễm khuẩn bang quang hay tái diễn với cùng loại vi khuẩn. Nguyên nhân có thể do một khuyết tật ở TTL nên vi khuẩn hay có ở đường tiết niệu. TTL thường bình thường hay đau khi khám.
    Hội chứng đau mạn tính vùng tiểu khung và viêm mạn tính TTL không do nhiểm khuẩn là thể thường gặp nhất nhưng cũng chưa được hiểu rõ nhất. Có thể gặp ở mọi lứa tuổi ở nam, từ tuổi vị thành niên muộn trở đi (từ 17 tuổi), các triệu chứng hết rồi lại tái diễn một cách tự nhiên, có thể có dấu hiệu viêm hay không.
    Trong thể viêm, nước tiểu, tinh dịch và các dịch của TTL không thấy bằng chứng của vi sinh vật gây bệnh nhưng lại có chứa những loại tế bào mà cơ thể thường tạo ra để chống lại sự nhiễm khuẩn.
    Được chẩn đoán là viêm TTL mà lại không có triệu chứng viêm khi người bệnh không thể hiện triệu chứng gì nhưng vẫn có các tế bào chống lại sự nhiễm khuẩn trong tinh dịch. Thường phát hiện ra một cách tình cờ khi thầy thuốc tìm nguyên nhân hiếm muộn hay khi làm kiểm tra phát hiện ung thư TTL. Viêm TTL không phải là bệnh lây truyền, đại đa số trường hợp không lây lan qua quan hệ tình dục.
    Trong một số trường hợp hiếm gặp, viêm tuyến tiền liệt thường phối hợp với những biến đổi về tần số xuất tinh.
    Triệu chứng bao gồm đau lưng, đau vùng tiểu khung, xuất tiết dịch đục ở dương vật, thay đổi về tiểu tiện. Viêm tuyến tiền liệt do vi khuẩn thì điều trị bằng kháng sinh. Viêm tuyến tiền liệt không do vi khuẩn thì điều trị bằng phương pháp xoa bóp. Thầy thuốc cho ngón tay qua trực tràng rồi ép nhịp nhàng vào tuyến tiền liệt.
     
    Phì đại lành tính tuyến tiền liệt
     
    Là u thường có nhất ở nam giới. Ở tuổi trưởng thành, tuyến tiền liệt nặng khoảng 20 gam. Ở một số người tuyến tiền liệt nhỏ đi nhưng đa số trường hợp tuyến phì đại và trở thành u lành. Đối với nam giới trên 50 tuổi, tỷ lệ này ở Việt Nam là 50 – 60% và 70 – 80% trên thế giới. Hai yếu tố quan trọng gây u lành tuyến tiền liệt là tuổi và testosteron.
    Phì đại lành tính TTL là loại bệnh lý chính đứng hàng thứ 2: TTL phát triển chèn ép vào niệu đạo và gây ra nhiều vấn đề tiết niệu  như hay đi tiểu, dòng nước tiểu yếu, đôi khi dừng và nhỏ giọt. Vì TTL vẫn phát triển suốt thời kỳ trưởng thành cho nên phì đại TTL rất hay gặp ở nam giới ngoài tuổi 50 và nam giới có tuổi cũng có nguy cơ cao bị ung thư TTL tuy có ít hơn. Thăm khám qua trực tràng để đánh giá kích thước và độ cứng của TTL, siêu âm hay chụp X-quang bang quang là những thăm dò thường làm.
    Phì đại TTL cũng có thể dẫn đến các vấn đề về tiết niệu như viêm TTL. Đến tuổi 60, nhiều nam có những dấu hiệu phì đại TTL. Đến tuổi 70, hầu hết nam có TTL to ra ở mức độ nào đó. Trong trường hợp xấu nhất, phì đại TTL có thể làm cho bang quang yếu đi, nhiễm khuẩn bang quang hay thận, tắc dòng tiểu và suy thận. Sự thực là một số nam bị ung thư TTL cũng đã bị phì đại TTL nhưng 2 bệnh không nhất thiết liên quan với nhau. Phần lớn nam giới bị phì đại TTL không phát triển thành ung thư TTL nhưng vì các triệu chứng sớm của 2 bệnh này giống nhau nên thầy thuốc cần đánh giá cả hai.
    Các thể bệnh TTL có thể có các triệu chứng tương tự, ví dụ viêm và phì đại TTL đều hay đi đái nhiều, buồn đái khẩn cấp; có người bị phì đại TTL bị khó đái lúc đầu, người khác lại bị đái đêm hay có người bị ung thư TTL lại không hề có triệu chứng gì ở giai đoạn đầu.
    Bị viêm và phì đại TTL không tăng khả năng vị ung thư TTL; nhưng cũng có khi đồng thời bị cả hai thể bệnh. Vì thế mọi nam giới ngoài 45 đều nên kiểm tra hàng năm TTL bằng PSA và thăm khám qua trực tràng. Ba quan ngại thường gặp nhất ở nam là đái đêm nhiều, buồn đái khẩn cấp và bí đái. Tuy nhiên, vì có nhiều lý do gây tăng PSA nên nếu nghi ngờ ung thư thì làm sinh thiết.
    Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của bệnh là rối loạn tiểu tiện. Mức độ rối loạn nặng hay nhẹ thông qua những biểu hiện sau trong một tháng theo dõi:
    - Cảm giác vẫn còn nước tiểu trong bàng quang sau mỗi lần đi tiểu xong?
    - Sau khi tiểu xong phải đi tiểu lại trong khoảng thời gian chưa đến 2 giờ.
    - Đang đi tiểu thì bị ngừng đột ngột rồi lại đi tiểu tiếp?
    - Có bao nhiêu lần không thể nhịn được tiểu?
    - Có bao nhiêu lần thấy tia nước tiểu yếu?
    - Có bao nhiêu lần phải rặn gắng sức mới tiểu được?
    - Trong một đêm thường phải đi tiểu mấy lần?
    Không có bệnh khi trả lời “không” ở tất cả các biểu hiện trên. Nếu có một số hay thường xuyên những triệu chứng kể trên cần phải đến ngay cơ sở y tế để khám và điều trị.
    Điều trị nội khoa u lành tuyến tiền liệt bằng cách sử dụng một trong các thuốc ức chế sản xuất testosteron, thuốc ức chế phát triển, thuốc ức chế thụ thể adrenergic có thể phối hợp với thuốc ức chế sản xuất testosteron. Trong những trường hợp u quá to (> 60 gam), có phối hợp sỏi bàng quang, sỏi thận… cần phải điều trị ngoại khoa.
     
    Ung thư tiến liệt tuyến
     
    Là bệnh lý hay gặp nhất ở nam giới. Ung thư TTL xảy ra khi các tế bào của TTL đột biến và sinh sôi phát triển nhanh không thể kiểm soát; những tế bào này có thể lan xa (gọi là di căn) ra các bộ phận khác của cơ thể, nhất là xương. Các hạch bạch huyết, trực tràng và bàng quang. Ung thư TTL có thể gây đau, khó đái, rối loạn chức năng cương dương và nhiều triệu chứng khác. Có nhiều yếu tố liên quan đến sự phát triển ung thư TTL, trong đó có yếu tố gien và chế độ ăn uống. Năm 2008, có công trình nghiên cứu nhận thấy finasteride giảm được tỷ lệ ung thư TTL khoảng 30%.
    Nhiều nam giới lo sợ không chỉ vì bệnh đe dọa tính mạng mà còn đe dọa cả cuộc sống tình dục; hậu quả của nhiều phương pháp điều trị có thể ảnh hưởng tới vấn đề kiểm soát bàng quang và chức năng cương dương. Nếu được phát hiện sớm, khi ung thư mới chỉ giới hạn ở tuyến thì khả năng điều trị mới có kết quả với tác dụng phụ tối thiểu. Khi ung thư đã lan ra ngoài tuyến thì việc điều trị khó khăn hơn. Tuy nhiên vẫn có những phương pháp điều trị giúp kiểm soát ung thư TL.
    Càng cao tuổi thì nguy cơ bị ung thư TTL càng tăng, 70 tuổi trung bình nam giới Mỹ được chẩn đoán là ung thư TTL (ở độ tuổi 50, khoảng một phần ba nam giới đã có một số tế bào ung thư ở TTL đến tuổi 80, số này tăng lên khoảng ba phần tư). Theo dõi sự phát triển của TTL bằng cách khám qua trực tràng hàng năm là rất cần thiết cho những người trên 40 tuổi, đó là khuyến cáo của Hội Ung thư Mỹ. Cũng còn phương pháp mới là khám bằng siêu âm qua trực tràng.
    Ung thư TTL là thường gặp nhất và là nguyên nhân gây tử vong thứ hai do ung thư ở Mỹ sau ung thư da. Ở Mỹ, khoảng 11 người thì có thể 1 bị bệnh này và hàng năm số bệnh nhân chết khoảng 25.000 người. Tiên lượng tốt nếu được chẩn đoán và điều trị sớm.
    Giai đoạn đầu của ung thư TTL cũng không có triệu chứng gì, vì thế khi bệnh nhân đến khám thì tỷ lệ đã có di căn tới 40% và tỷ lệ tử vong chiếm hàng thứ ba sau ung thư phổi và ung thư đại – trực tràng ở nam giới cao tuổi.
    Cần nhớ rằng ung thư TTL tác động đến nam giới nhiều nhưng không phải gây nhiều tử vong cho nam giới vì theo Viện nghiên cứu về ung thư Quốc gia Mỹ thì khoảng một phần năm nam giới Mỹ được chẩn đoán là bị ung thư TTL nhưng chỉ có 3% nam giới Mỹ tử vong. Tại sao con số được chẩn đoán là ung thư TTL lại nhiều hơn số tử vong đến thế? Chỉ có câu trả lời là ung thư TTL tiến triển chậm hơn nhiều so với nhiều loại ung thư khác.
    Nhiều nam giới đã chung sống với nó trong nhiều năm. Nhiều người khác cố gắng không điều trị mà chỉ theo dõi kỹ diễn biến bệnh, một phương pháp gọi là “chờ đợi nhưng theo dõi tích cực”: Chiến lược đó là hàng năm kiểm tra TTL; khám trực tràng bằng tay và làm tét xác định nồng độ PSA (sau tuổi 50) để phát hiện sớm ung thư TTL, khi đó việc điều trị có hiệu quả nhất. Nhiều thầy thuốc cũng coi tét PSA và khám trực tràng là phương pháp để tầm soát ung thư TTL cũng như để theo dõi sự tái phát.
    Như trên đã nói, ung thư tuyến tiền liệt thường không có triệu chứng gì vào giai đoạn sớm, ngoài những thay đổi có thể phát hiện thấy khi thăm khám trực tràng bằng tay hoặc siêu âm hoặc tình cờ phát hiện ra PSA tăng. Tuy nhiên, đôi khi ung thư TTL cũng gây ra các triệu chứng thường tương tự như phì đại lành tính TTL.
    Những dấu hiệu cần lưu ý bao gồm: Khi đái, dòng nước tiểu không còn mạnh như trước; dò rỉ nước tiểu; đái dắt hoặc đái nhiều lần; đái đau; nước tiểu có lẫu máu; đái đêm; đau vùng tiểu khung; đau bụng dưới.
    Một nguồn khác cho thấy bệnh ung thư TTL tiến triển ở đa số đàn ông với tốc độ chậm tới mức cho đến cuối đời cũng khong có bất cứ dấu hiệu nào. Sự thật một nửa số đàn ông 80 tuổi đều có tế bào ung thư trong TTL thế nhưng đa số không chết vì bệnh này (Theo N and Z số 16/08).
    Ung thư TTL hay kết hợp với rối loạn chức năng tiểu tiện vì tuyến bao quanh phần niệu đạo nằm trong tuyến. Do đó những thay đổi ở tuyến có ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng tiết niệu.
    Ung thư TTL đã tiến triển có thể lan tới các bộ phận khác của cơ thể và gây thêm các triệu chứng. Các triệu chứng thường gặp nhất là đau xương, thường đau ở cột sống, tiểu khung hay xương sườn. Ung thư di căn tới các xương khác như xương đùi (thường ở phần gần trung tâm của xương), di căn tới đốt sống cũng có thể gây chèn ép ống tủy, làm cho chân yếu, són đái, són phân.
     
    Cần phân biệt hai loại ung thư TTL:
     
    Loại ung thư TTL không gây ra dấu hiệu hay triệu chứng gì suốt cả đời, chỉ đến khi chết, mổ tử thi mới phát hiện ra. Loại ung thư này không đe dọa tuổi thọ hay chất lượng sống và không cần điều trị.
    Loại ung thư làm cho TTL phát triển to đến mức có triệu chứng và có nồng độ PSA tăng, khám trực tràng có thể sờ thấy, loại này tiềm ẩn tiên lượng xấu và có thể có diễn biến nghiêm trọng nếu không được điều trị.
     
  • Bài viết cùng chuyên mục

  • VITAMIN D LÀ GÌ? Cập nhật: 09/09/2015
  • NỘI TIẾT TỐ NỮ Cập nhật: 07/09/2015
  • OMEGA -3, EPA, DHA LÀ GÌ? Cập nhật: 04/09/2015
  • PROBIOTICS LÀ GÌ? Cập nhật: 04/09/2015
  • GLUCOSAMINE LÀ GÌ? Cập nhật: 04/09/2015
  • GINKGO BILOBA LÀ GÌ? Cập nhật: 04/09/2015
  • MELATONIN LÀ GÌ? Cập nhật: 04/09/2015
  • CHOLESTEROL LÀ GÌ? Cập nhật: 09/09/2015
  • TẢO XOẮN Cập nhật: 18/09/2015
  • CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG CỦA TIM Cập nhật: 09/09/2015
  • natures plus careline Vitamins For Life 1 careline Vitamins For Life Nature's Plus 2